Còn đó những trăn trở
Tâm sự của người cán bộ quản lý giáo dục miền sông Hậu đã nói lên được phần nào mong muốn và khát vọng của người dân đồng bằng. Rõ ràng, dù đã có những chuyển biến tích cực, nhiều nơi đã khởi sắc, nhưng so với tiềm năng, vị trí, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực, giáo dục ĐBSCL vẫn còn đó những trăn trở. Tháng 7/2009, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ đã nhận định: Quyết định 20/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng đã tạo ra diện mạo mới cho giáo dục ở ĐBSCL. Các điểm trường khang trang hơn nhờ chương trình kiên cố hóa trường lớp; giáo viên (GV) an tâm giảng dạy hơn nhờ có nhà công vụ. Nhưng do cơ sở hạ tầng xã hội của vùng ở mức xuất phát điểm thấp, nguồn lực đầu tư chưa đồng bộ và chưa đủ mạnh nên chưa tạo ra đột phá cho sự nghiệp GD&ĐT toàn vùng.
 |
| Ảnh minh họa - Internet |
Báo cáo của Bộ GD&ĐT sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định 20/2006/ QĐ-TTg của Thủ tướng, bên cạnh đánh giá cao những thành tựu đạt được của giáo dục khu vực, cũng thẳng thắn nhìn nhận một số hạn chế. Đó là quy mô học sinh mầm non tăng 17,7%, nhưng số học sinh phổ thông trong độ tuổi đến trường tăng chậm; tỉ lệ sinh viên trên 1 vạn dân mới đạt 85 sinh viên. Năng lực đào tạo của hệ thống các trường từ TCCN đến ĐH còn thấp cả về quy mô và chất lượng đào tạo. Giáo dục phổ thông còn thiếu giáo viên các môn đặc thù (thể dục, công nghệ, mỹ thuật, âm nhạc, tin học, ngoại ngữ). Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học của các trường cao đẳng, đại học còn thấp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giáo dục, đào tạo của vùng… Những hạn chế này thực sự là những khoảng lặng trong bức tranh toàn cảnh về giáo dục ĐBSCL.
Cần chung sức
Để khắc phục những hạn chế còn tồn đọng, tháo gỡ khó khăn, giúp giáo dục ĐBSCL phát triển, bản thân ngành Giáo dục và các địa phương là hai đầu mối trách nhiệm chính, cần chung sức mạnh mẽ.Trước hết, về tổng thể, giáo dục ĐBSCL là một bộ phận hữu cơ của giáo dục cả nước, cần tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chung để phát triển giáo dục, nhất là cần chủ động tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; đồng thời triển khai thực hiện tốt chủ đề của năm học 2009-2010 là đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, giáo dục ĐBSCL cũng cần có những định hướng và giải pháp phát triển đặc thù.
Về cơ sở vật chất, các tỉnh trong vùng cần tập trung triển khai tốt Đề án Kiên cố hóa trường học và nhà công vụ giáo viên giai đoạn 2008-2012, trong đó ưu tiên đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cùng với các chương trình, dự án khác nhằm hoàn thiện mạng lưới trường học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Tăng cường tổ chức dạy 2 buổi/ngày, nhất là đối với các trường phổ thông dân tộc nội trú; hoàn thiện và mở rộng quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và cấp huyện. Căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng mạng lưới các trường TCCN và các trường đại học, cao đẳng, trong đó chú trọng gắn đào tạo với nhu cầu xã hội.
Bộ GD&ĐT và các Bộ, Ngành liên quan cần cân đối các nguồn lực đầu tư ưu tiên cho vùng đồng bằng sông Cửu Long để tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và hoàn thiện mạng lưới trường, lớp học, tiếp tục đầu tư nâng cấp trường Đại học Cần Thơ thành trường trọng điểm quốc gia, phối hợp với các địa phương củng cố, mở rộng quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng hiện có trong vùng.
Song song với đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, các tỉnh ĐBSCL phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Trong chuyến công tác Hậu Giang tháng 7 vừa qua, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã đề nghị mỗi tỉnh phải xây dựng kế hoạch cân bằng GV cho từng môn học, cấp học của mình. Và từng tỉnh, thông qua Sở GD&ĐT, phải chủ động đặt hàng với các trường đại học sư phạm hoặc cao đẳng sư phạm trong và ngoài tỉnh mình để có đủ GV về giảng dạy. Việc “đặt hàng GV” phải kèm theo chính sách để khuyến khích họ sau khi học về là phải giảng dạy, công tác tại địa phương mình.
 |
| Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện Chương trình Mekong 1000 |
Các tỉnh trong khu vực cũng cần phối hợp với Đại học Cần Thơ, tiếp tục thực hiện Chương trình MeKong 1000. Đối với các trường đại học, cao đẳng trong vùng, phải có kế hoạch đào tạo sau đại học cho giảng viên, ưu tiên tham gia chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ trong cả nước đến năm 2015.
Tăng cường công tác chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục: tiếp tục chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo, tăng cường năng lực tự học của học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá; chỉ đạo việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông đối với vùng đồng bào dân tộc nói chung và các trường có nhiều học sinh người Khmer nói riêng, đảm bảo được các yêu cầu tối thiểu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của từng môn học, duy trì nền nếp, kỷ luật quản lý chuyên môn, tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên.
Các tỉnh ĐBSCL cũng cần triển khai mạnh mẽ các biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Trong đó, các địa phương cần tiến hành xây dựng kế hoạch giúp đỡ, bồi dưỡng học sinh học lực yếu kém ngay từ đầu năm học; phân luồng học sinh học tập tiếp tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo các hình thức học tập phù hợp. Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhà trường cùng địa phương có biện pháp hỗ trợ để các em có cơ hội đến trường, hỗ trợ học sinh dân tộc học tiếng Việt, vận động cha mẹ học sinh tạo điều kiện cho con em đến lớp. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt chế độ, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục dân tộc như tăng chỉ tiêu cử tuyển cho con em ở vùng khó khăn, vùng biên giới và con em đồng bào dân tộc Khmer vào các trường đại học (dự bị đại học), cao đẳng, tiếp tục hoàn thiện các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ học sinh, giáo viên là người dân tộc nói chung và người Khmer nói riêng.
Mong muốn tiếp tục được ưu tiên đầu tư
Ngành Giáo dục và các địa phương nỗ lực là chính, nhưng vẫn chưa đủ. Sự nghiệp giáo dục của ĐBSCL cần nhận được sự quan tâm đầu tư dài hơi, có trọng điểm hơn từ Nhà nước và nguồn lực xã hội hóa giáo dục.
 |
| Học sinh ĐBSCL đến trường thuận lợi hơn nhờ chương trình xóa cầu khỉ |
Nhận xét về 3 năm thực hiện Quyết định 20/2006/ QĐ-TTg, Giám đốc Sở GD&ĐT Bến Tre, ông Lê Ngọc Bửu cho biết: Đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục, đào tạo 3 năm nay ở Bến Tre bằng 15 năm trước cộng lại. Tỉnh đã có thêm một trường cao đẳng, một trường trung cấp chuyên nghiệp, mỗi huyện, thị đều có trung tâm dạy nghề. Rõ ràng Bến Tre đã có một bước chuyển biến lớn, căn bản. Tuy nhiên, ngân sách cho giáo dục tăng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Để giáo dục đồng bằng phát huy những thành quả đạt được, phát triển bền vững, Chính phủ cần cho phép tiếp tục thực hiện Quyết định 20/2006/ QĐ-TTg trong nhiều năm nữa.
Song hành với việc kéo dài thêm thời gian ưu tiên đầu tư, với xuất phát điểm hạ tầng thấp, giáo dục ĐBSCL cần được Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan cùng với Bộ GD&ĐT cân đối các nguồn lực đầu tư, xác định các danh mục dự án, chương trình, ưu tiên đầu tư, đảm bảo cho giáo dục và đào tạo vùng ĐBSCL đạt các chỉ tiêu phát triển (theo Quyết định số 20/ 2006/ QĐ-TTg) đến năm 2010. Cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, thu hút đội ngũ trí thức có trình độ cao ở trong và ngoài nước tham gia công tác phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở vùng ĐBSCL. Cần tiếp tục triển khai sâu rộng xã hội hóa GD ở ĐBSCL để huy động tối đa nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục ĐBSCL.
Mong muốn của người dân đồng bằng cũng là mong muốn của cả nước. Tất cả vì ĐBSCL, chung tay, góp sức vì giáo dục ĐBSCL, chắc chắn giáo dục ĐBSCL sẽ cất cánh!
Nhóm PV phía Nam